Người đánh cá câu cá trên dòng sông Y. Người tiều phu đi qua, thả gánh nghỉ vai, ngồi lên tảng đá và hỏi người đánh cá: “Có thể câu được cá không?”
Người đánh cá đáp: “Có thể.”
Tiều phu lại hỏi: “Không có mồi thì có thể câu được cá không?”
Người đánh cá đáp: “Không thể.”
Tiều phu lại nói: “Không phải do lưỡi câu, mà là do mồi. Cá vì tham ăn mà bị hại, người vì thích cá mà được lợi. Lợi thì giống nhau, nhưng hại lại khác nhau. Xin hỏi tại sao?”
Người đánh cá đáp: “Ông là tiều phu, tôi là ngư phủ, công việc khác nhau, sao có thể bàn luận về việc của tôi? Nhưng tôi cũng có thể giải thích cho ông. Lợi của cá cũng như lợi của tôi; hại của cá cũng như hại của tôi. Ông biết rằng cá được ăn cả ngày là có lợi, nhưng làm sao biết được không được ăn cả ngày lại là có hại? Như vậy, hại của việc ăn còn lớn hơn hại của lưỡi câu.
Ông nghĩ rằng tôi câu cá cả ngày là có lợi, nhưng sao biết được việc tôi không câu được cá lại không phải là có hại? Như vậy, hại của tôi còn lớn hơn hại của cá. Nếu lấy thân cá để so với một bữa ăn của con người, thì cá chịu nhiều hại hơn; nếu lấy thân người để so với một bữa ăn của cá, thì con người cũng chịu nhiều hại.
Nhưng nếu câu cá ở sông lớn hay biển cả, thì không có chuyện làm thay đổi môi trường sống. Cá hưởng lợi từ nước, người hưởng lợi từ đất, nước và đất tuy khác nhau, nhưng lợi là một. Cá bị hại vì mồi, người bị hại vì tài sản, mồi và tài sản tuy khác nhau, nhưng hại cũng là một.
Vậy hà cớ gì phải phân biệt ta và ông? Những lời ông nói chỉ xét đến hình thức mà không hiểu được cách vận dụng chân thực.”
Tiều phu lại hỏi: “Có thể ăn cá sống không?”
Người đánh cá đáp: “Nấu chín rồi mới có thể ăn được.”
Tiều phu lại hỏi: “Nhất định phải dùng củi của tôi mới nấu được cá của ông sao?”
Người đánh cá đáp: “Đúng vậy.”
Tiều phu vui mừng nói: “Vậy ra ta biết mình có ích cho ông rồi.”
Người đánh cá cười và nói: “Nhưng ông chỉ biết rằng củi của ông có thể giúp nấu cá của tôi, mà không biết vì sao củi có thể làm được điều đó. Củi có thể giúp nấu cá từ rất lâu rồi, đâu cần đợi đến ông mới biết.
Nếu người đời không biết rằng lửa có thể đốt củi, thì dù củi chất cao như núi cũng chẳng có ích gì, phải không?”
Tiều phu nói: “Xin được nghe đạo lý ấy.”
Người đánh cá đáp: “Lửa sinh ra từ động, nước sinh ra từ tĩnh. Động và tĩnh sinh ra lẫn nhau, nước và lửa chế ngự lẫn nhau. Nước và lửa là công cụ sử dụng, còn cây cỏ là bản thể. Công dụng sinh ra từ lợi ích, còn bản thể sinh ra từ tổn hại.
Lợi và hại thể hiện qua cảm xúc, còn bản thể và công dụng lại ẩn sâu trong bản tính. Một bản tính và một cảm xúc, bậc thánh nhân có thể tạo ra củi của ông.
Cũng giống như cá của tôi, nếu không có lửa, chúng sẽ thối rữa, bốc mùi, trở nên vô dụng. Vậy làm sao có thể nuôi dưỡng thân thể bảy thước của con người được?”
Tiều phu nói: “Công dụng của lửa lớn hơn củi, điều đó ta đã biết. Nhưng xin hỏi, nếu muốn đốt vật, có nhất thiết phải đợi củi mới truyền được lửa không?”
Người đánh cá đáp: “Củi là thể của lửa, lửa là dụng của củi. Lửa không có hình thể, phải dựa vào củi mới hiện hữu; củi không có công dụng, phải nhờ lửa mới phát huy được. Vì vậy, bất cứ vật gì có hình thể đều có thể bị đốt cháy.”
Tiều phu lại hỏi: “Nước có hình thể không?”
Người đánh cá đáp: “Có.”
Tiều phu lại hỏi: “Lửa có thể thiêu đốt nước không?”
Người đánh cá đáp: “Bản tính của lửa là có thể tiến tới nhưng không thể lùi theo, vì vậy nó bị dập tắt. Bản thể của nước là có thể chảy theo nhưng không thể đối đầu, vì vậy nó nóng lên.
Do đó, có suối nước nóng nhưng không có lửa lạnh. Đây chính là sự tương sinh và chế ngự lẫn nhau của chúng.”
Tiều phu lại hỏi: “Đạo của lửa sinh ra từ dụng, vậy lửa có thể không?”
Người đánh cá đáp: “Lửa lấy dụng làm gốc, lấy thể làm ngọn, vì vậy nó luôn động. Nước lấy thể làm gốc, lấy dụng làm ngọn, vì vậy nó tĩnh. Do đó, lửa cũng có thể, nước cũng có dụng. Vì vậy, chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau, cũng có thể kiềm chế lẫn nhau. Không chỉ riêng nước và lửa, mà mọi việc trong thiên hạ đều như vậy, điều quan trọng là phải biết cách sử dụng chúng!”
Người tiều phu hỏi: “Có thể nghe giảng về ‘dụng’ không?”
Người đánh cá đáp: “Cái có thể lĩnh hội bằng ý thức là bản tính của sự vật; cái có thể truyền đạt bằng lời là tình của sự vật; cái có thể tìm hiểu qua hình tượng là hình của sự vật; cái có thể đo lường bằng số là thể của sự vật. Còn ‘dụng’ chính là điều huyền diệu trong vạn vật, có thể lĩnh hội bằng ý thức nhưng không thể truyền đạt bằng lời.”
Người tiều phu hỏi: “Nếu không thể truyền đạt bằng lời, thì làm sao ông biết được điều đó?”
Người đánh cá đáp: “Ta biết được điều này, nhưng vốn dĩ không thể diễn đạt bằng lời. Không chỉ riêng ta, mà ngay cả bậc thánh nhân cũng không thể truyền đạt điều này bằng lời.”
Người tiều phu hỏi: “Nếu thánh nhân không thể truyền đạt bằng lời, vậy lục kinh chẳng phải là lời nói sao?”
Người đánh cá đáp: “Đến lúc thích hợp thì mới nói, nhưng thực sự có gì để nói đâu?”
Người tiều phu tán thưởng: “Đạo của trời đất đều có trong con người, đạo của vạn vật đều có trong thân thể, đạo của sự huyền diệu đều có trong thần trí. Như vậy, mọi việc trên đời đã hoàn tất, còn gì để suy nghĩ hay lo lắng nữa! Từ nay về sau, ta mới hiểu rằng, việc quan trọng nhất là đặt tâm vào thực hành và thể nghiệm. Nếu không bước vào cánh cửa này, thì chẳng khác nào đi vào chỗ nguy hiểm!”
Rồi họ chẻ củi, nấu cá và ăn cho no, sau đó cùng bàn luận về Kinh Dịch.
Người đánh cá và người tiều phu dạo chơi trên dòng sông Y.
Người đánh cá than rằng: “Ôi, muôn vật thật nhiều vô kể mà chưa từng lẫn lộn. Ta hiểu rằng khi dạo chơi giữa trời đất, vạn vật có thể đạt đến trạng thái vô tâm mà thành tựu. Nếu không phải là ngươi, thì còn ai có thể cùng ta quay về với điều đó?”
Người tiều phu hỏi: “Xin mạo muội hỏi, làm thế nào để đạt được trạng thái vô tâm mà có thể thành tựu trời đất và vạn vật?”
Người đánh cá đáp: “Vô tâm nghĩa là không cố ý. Khi không có ý niệm cố ý, thì không bị vật ràng buộc. Khi không bị vật ràng buộc, mới có thể làm chủ được vạn vật.”
Người tiều phu lại hỏi: “Thế nào là ta, thế nào là vật?”
Người đánh cá đáp: “Nếu lấy ‘ta’ mà thuận theo vật, thì ta cũng trở thành vật. Nếu lấy vật mà thuận theo ta, thì vật cũng trở thành ta. Khi cả ta và vật đều đạt đến trạng thái viên mãn, ý niệm sẽ sáng tỏ. Trời đất cũng là vạn vật, vậy sao cần phải phân biệt giữa trời đất? Vạn vật cũng chính là trời đất, sao cần phân biệt vạn vật? Vạn vật cũng chính là ta, vậy sao phải phân biệt giữa vạn vật? Ta cũng là vạn vật, vậy sao phải phân biệt ta? Có vật nào không phải là ta? Có ta nào không phải là vật? Nếu đạt đến điều này, thì có thể cai quản trời đất, quản lý thần linh. Huống chi là con người, huống hồ là vạn vật?”
Người tiều phu hỏi người đánh cá: “Trời dựa vào đâu?”
Người đánh cá đáp: “Dựa vào đất.”
Người tiều phu lại hỏi: “Vậy đất nương tựa vào đâu?”
Người đánh cá đáp: “Nương tựa vào trời.”
Người tiều phu hỏi tiếp: “Vậy trời đất dựa vào đâu và nương tựa vào đâu?”
Người đánh cá đáp: “Chúng tựa vào nhau. Trời dựa vào hình thể, đất dựa vào khí. Hình thể có giới hạn, khí vô biên. Hữu và vô sinh ra lẫn nhau, hình thể và khí tương tác với nhau. Kết thúc là khởi đầu, và giữa kết thúc và khởi đầu, trời đất vẫn tồn tại.
Trời lấy công dụng làm gốc, hình thể làm ngọn; đất lấy hình thể làm gốc, công dụng làm ngọn. Công dụng của sự ra vào gọi là thần, danh xưng của hữu và vô gọi là thánh. Chỉ có thần và thánh mới có thể tham dự vào trời đất.
Người tầm thường chỉ sử dụng mọi thứ hàng ngày mà không hiểu, vì thế sinh ra tai họa và mất đi thực chất. Danh vọng là khách của thực chất, lợi ích là chủ của tai họa. Danh vọng sinh ra từ thiếu thốn, lợi ích mất đi khi dư thừa. Tai họa sinh ra từ sự dư thừa, thực chất mất đi vì thiếu thốn. Đây là quy luật muôn đời.
Người dưỡng thân phải dựa vào lợi ích, kẻ tham lam lại dùng thân mình để theo đuổi lợi ích, nên mới có tai họa. Người lập thân phải dựa vào danh tiếng, nhưng đám đông lại lấy thân mình để chạy theo danh vọng, nên mới đánh mất thực chất.
Lấy tài sản của người khác thì gọi là trộm cướp. Lúc đầu, khi chiếm đoạt, chỉ sợ không có nhiều. Nhưng khi bị bại lộ, lại chỉ sợ quá nhiều. Tiền tài và của cải tham nhũng vốn là một, nhưng mang hai tên gọi vì liên quan đến lợi và hại.
Cướp đoạt danh dự của người khác thì gọi là gian trá. Ban đầu, khi lấy đi, chỉ sợ không có nhiều. Nhưng khi bị bại lộ, lại chỉ sợ quá nhiều. Danh tiếng và hủy hoại vốn là một, nhưng mang hai tên gọi vì liên quan đến danh và thực.
Triều đình là nơi tụ họp danh vọng, chợ búa là nơi tập trung lợi ích. Nếu có thể không tranh giành ở giữa đó, dù một ngày thăng tiến chín lần, một món hàng tăng giá gấp mười, thì đâu có gì đáng lo về tổn hại và mất thực chất?
Như vậy mới biết, tranh giành là khởi đầu của việc mưu cầu lợi ích, nhường nhịn là nền tảng của danh vọng. Khi lợi ích đến, tai họa sinh ra; khi danh vọng hưng thịnh, thực chất mất đi. Chỉ có người có đức mới có thể đạt đến trạng thái lợi ích và danh vọng mà không gặp tai họa và mất thực chất.
Trời nương vào đất, đất nương vào trời, nào có xa cách gì đâu!”
Người đánh cá nói với người tiều phu: “Khi thiên hạ sắp thái bình, con người sẽ coi trọng hành động; khi thiên hạ sắp loạn lạc, con người sẽ coi trọng lời nói. Khi coi trọng hành động, phong khí thực chất sẽ lan rộng; khi coi trọng lời nói, phong khí dối trá sẽ hoành hành.
Khi thiên hạ sắp thái bình, con người sẽ đề cao nghĩa lý; khi thiên hạ sắp loạn lạc, con người sẽ chạy theo lợi ích. Nếu đề cao nghĩa lý, phong khí khiêm nhường sẽ lan rộng; nếu chạy theo lợi ích, phong khí tranh đoạt sẽ hoành hành.
Ba vị vua hiền đức thời cổ đại coi trọng hành động; năm vị bá chủ thời chiến loạn lại coi trọng lời nói. Người coi trọng hành động tất sẽ nhập vào đạo nghĩa, người coi trọng lời nói tất sẽ nhập vào lợi ích. Đạo nghĩa và lợi ích cách biệt xa đến nhường nào!
Vì thế, lời nói ở miệng không bằng hành động nơi thân. Hành động nơi thân không bằng sự viên mãn trong tâm. Lời nói từ miệng, người khác có thể nghe; hành động nơi thân, người khác có thể thấy; nhưng sự viên mãn trong tâm thì thần linh mới thấu hiểu.
Con người đã thông minh mà không thể lừa dối, huống chi là thần linh? Do đó, không hổ thẹn với lời nói không bằng không hổ thẹn với hành động; không hổ thẹn với hành động không bằng không hổ thẹn với tâm.
Tránh lỗi trong lời nói thì dễ, tránh lỗi trong hành động thì khó. Tránh lỗi trong hành động thì dễ, tránh lỗi trong tâm thì khó. Nếu đã không còn lỗi trong tâm, thì còn gì là khó khăn nữa?
Ôi! Làm sao có thể tìm được người không có lỗi trong tâm để cùng đàm luận về đạo lý đây!”
Người đánh cá nói với người tiều phu: “Ngươi có biết cách quan sát đạo lý của trời đất và vạn vật không?”
Người tiều phu đáp: “Tôi chưa biết. Mong được nghe chỉ dẫn.”
Người đánh cá nói: “Cái gọi là quan sát vạn vật, không phải là quan sát bằng mắt. Không quan sát bằng mắt mà quan sát bằng tâm. Không quan sát bằng tâm mà quan sát bằng lý.
Mọi vật trong thiên hạ đều có lý, có tính, có mệnh.
Lý là gì? Là phải truy cùng tận thì mới biết được.
Tính là gì? Là phải hiểu thấu đáo mới rõ.
Mệnh là gì? Là phải đến tận cùng mới hiểu rõ được.
Ba điều này chính là tri thức chân chính trong thiên hạ. Dù là bậc thánh nhân cũng không thể vượt qua được. Người có thể vượt qua nó, thì lại không được gọi là thánh nhân.
Gương có thể soi sáng vì nó không che giấu hình dạng của vạn vật. Nhưng dù gương có thể không giấu hình dạng vạn vật, cũng không bằng nước có thể hòa hợp với mọi hình dạng.
Nhưng nước có thể hòa hợp với mọi hình dạng, lại cũng không bằng thánh nhân có thể thấu hiểu được tình cảm của vạn vật.
Thánh nhân có thể hiểu được tình cảm của vạn vật vì ngài có thể ‘phản quan’ — tức là không dùng cái tôi của mình để quan sát vạn vật.
Không dùng cái tôi của mình để quan sát, tức là dùng vạn vật để quan sát vạn vật. Một khi đã có thể dùng vạn vật quan sát lẫn nhau, thì còn chỗ nào cho cái tôi tồn tại nữa?
Vì vậy, ta cũng là người, người cũng là ta. Ta và người đều là vật.
Do đó, có thể dùng mắt của thiên hạ làm mắt của mình, thì chẳng có gì là không thể thấy.
Dùng tai của thiên hạ làm tai của mình, thì chẳng có gì là không thể nghe.
Dùng miệng của thiên hạ làm miệng của mình, thì chẳng có gì là không thể nói.
Dùng tâm của thiên hạ làm tâm của mình, thì chẳng có gì là không thể suy tính.
Như vậy, cách quan sát của thiên hạ chẳng phải sẽ vô cùng rộng lớn sao?
Tai của thiên hạ nghe chẳng phải sẽ vô cùng xa xôi sao?
Lời nói của thiên hạ bàn luận chẳng phải sẽ vô cùng cao thâm sao?
Trí tuệ của thiên hạ chẳng phải sẽ vô cùng vĩ đại sao?
Nếu có thể đạt đến sự rộng lớn, xa xôi, cao thâm, vĩ đại ấy mà trong lòng không có chút tạp niệm nào, thì không phải chính là bậc thần thánh tối cao sao?
Không chỉ ta nói như vậy, mà cả thiên hạ cũng nói như vậy.
Không chỉ thiên hạ trong một thời kỳ nói như vậy, mà thiên hạ của hàng nghìn vạn năm cũng đều nói như vậy.
Vượt qua điều đó nữa, ta không thể biết được!”
Người tiều phu hỏi người đánh cá: “Ngài dùng phương pháp gì để bắt cá?”
Người đánh cá đáp: “Ta sử dụng sáu vật để bắt cá.”
Người tiều phu hỏi: “Sáu vật đó có phải do trời quyết định không?”
Người đánh cá đáp: “Có đủ sáu vật thì người có thể bắt cá. Nhưng việc có bắt được cá hay không lại không do con người quyết định.”
Người tiều phu chưa hiểu, hỏi tiếp: “Mong được nghe chỉ dẫn.”
Người đánh cá nói: “Sáu vật này là: cần câu, dây câu, phao, chì, lưỡi câu và mồi. Thiếu một trong số chúng, thì không thể bắt được cá. Tuy nhiên, dù có đầy đủ sáu vật mà không bắt được cá, đó là do trời. Có người đầy đủ sáu vật nhưng vẫn không bắt được cá, nhưng chưa có ai thiếu sáu vật mà lại bắt được cá. Vì vậy, việc có đủ sáu vật là do con người. Còn việc bắt được cá hay không là do trời. Nếu thiếu sáu vật mà không bắt được cá, thì không phải do trời, mà là lỗi của con người.”
Người tiều phu hỏi: “Có người cầu khấn quỷ thần để xin phúc lành. Phúc có thể cầu xin mà được không? Cầu xin rồi có thể đạt được không? Xin cho biết lý do.”
Người đánh cá đáp: “Nói về thiện và ác là việc của con người. Phúc và họa là việc của trời. Đạo trời ban phúc cho người thiện, giáng họa cho kẻ ác, quỷ thần sao có thể trái với đạo trời được? Tội lỗi do chính mình gây ra, khó mà tránh khỏi. Tai họa do trời giáng xuống, có cúng bái cũng vô ích. Tích đức, làm việc thiện là bổn phận của người quân tử, sao lại phải tìm kiếm những việc vô nghĩa khác?”
Người tiều phu hỏi: “Nhưng có người làm việc thiện mà gặp tai họa, có kẻ làm việc ác lại gặp phúc, là vì sao?”
Người đánh cá đáp: “Có may mắn và không may mắn. May mắn hay không may mắn là do số mệnh. Đúng hay sai là do phần số. Số mệnh và phần số, con người có thể trốn tránh được sao?”
Người tiều phu hỏi: “Thế nào là phần số? Thế nào là mệnh?”
Người đánh cá trả lời: “Tiểu nhân gặp phúc không phải là do phần số, mà là do mệnh; gặp họa là do phần số, không phải do mệnh. Quân tử gặp họa không phải là do phần số, mà là do mệnh; gặp phúc là do phần số, không phải do mệnh.”
Người đánh cá lại nói: “Cái mà con người gọi là thân thiết, không gì bằng cha con; cái mà con người gọi là xa lạ, không gì bằng người qua đường. Nhưng khi lợi hại đã chen vào lòng, thì cha con cũng xa như người qua đường. Đạo lý cha con là thiên tính, thế mà còn có thể bị lợi hại làm thay đổi, huống chi những thứ không phải thiên tính? Sự thay đổi của lợi hại đối với con người sâu sắc như thế, há chẳng phải nên thận trọng sao? Người qua đường gặp nhau rồi đi, vốn không có tâm hại nhau, vì trước mặt không có lợi hại. Nhưng nếu có lợi hại trước mặt, thì người qua đường và cha con có gì khác nhau? Nếu người qua đường có thể giao hảo bằng nghĩa lý, thì cha con càng phải thân thiết hơn nữa! Nghĩa là cội rễ của nhường nhịn; lợi là khởi đầu của tranh giành. Nhường nhịn thì sinh ra nhân, tranh giành thì sinh ra hại. Nhân và hại, khác biệt biết bao xa! Nghiêu, Thuấn cũng là người, Kiệt, Trụ cũng là người. Con người giống nhau, nhưng nhân và hại lại khác biệt. Nhân sinh ra từ nghĩa, hại sinh ra từ lợi. Nếu lợi không dựa trên nghĩa, thì có kẻ giết vua, có kẻ giết cha. Há chẳng phải giống như người qua đường gặp nhau, liếc mắt một cái rồi chia tay trên đường sao?”
Người tiều phu hỏi người đánh cá: “Tôi từng gánh củi, gánh trăm cân mà không tổn hại thân mình, nhưng thêm mười cân thì liền bị thương. Xin hỏi tại sao?”
Người đánh cá nói: “Chuyện chặt củi thì tôi không rõ, nhưng nhìn từ công việc của tôi thì ở đâu cũng vậy. Tôi từng câu được một con cá lớn, nó vật lộn với tôi. Muốn bỏ nó thì không nỡ, muốn bắt nó thì chưa thắng được. Đến cuối ngày mới bắt được, suýt nữa bị kéo chìm xuống nước. Chẳng phải cũng có nguy cơ tổn hại thân mình sao? Cá và củi tuy khác nhau, nhưng sự tham lam dẫn đến tổn hại thì giống nhau. Trăm cân là trong khả năng sức lực của tôi, còn mười cân thì vượt quá khả năng. Nếu đã vượt qua giới hạn, dù chỉ một sợi lông cũng có thể gây hại, huống chi là mười cân! Sự tham lam của tôi với cá cũng giống như sự tham lam của anh với củi!”
Người tiều phu than rằng: “Từ nay về sau, tôi hiểu rằng người biết lượng sức mà hành động chính là bậc trí giả!”
Người tiều phu hỏi người đánh cá: “Anh có thể gọi là người hiểu đạo lý của Dịch. Tôi muốn hỏi về Thái Cực trong Dịch. Thái Cực là gì?”
Người đánh cá đáp: “Là cội rễ của vô vi.”
Người tiều phu lại hỏi: “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi có phải là trời và đất không?”
Người đánh cá đáp: “Lưỡng Nghi là tổ tiên của trời đất, không chỉ là trời đất mà thôi. Thái Cực phân ra thành hai, ban đầu có một gọi là Nhất, sau đó có một nữa gọi là Nhị, Nhất và Nhị gọi là Lưỡng Nghi.”
Người tiều phu hỏi: “Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, vậy Tứ Tượng là gì?”
Người đánh cá trả lời: “Tứ Tượng là âm, dương, cương, nhu. Có âm dương thì mới có thể sinh ra trời, có cương nhu thì mới có thể sinh ra đất. Cội rễ của việc lập công chính là đây.”
Người tiều phu hỏi tiếp: “Tứ Tượng sinh Bát Quái, vậy Bát Quái là gì?”
Người đánh cá đáp: “Là Càn, Khôn, Ly, Khảm, Đoài, Cấn, Chấn, Tốn. Chúng thay đổi thịnh suy, sinh diệt lẫn nhau. Nếu chồng lên nhau, thì sẽ tạo ra sáu mươi tư quẻ, và đạo lý của Dịch được hoàn chỉnh.”
Người tiều phu lại hỏi: “Làm sao có thể thấy được tâm của trời đất?”
Người đánh cá nói: “Khi dương trước đã hết, dương sau mới sinh, đó là lúc trời đất bắt đầu sinh ra. Giữa lúc đó là khi mặt trời và mặt trăng bắt đầu xoay vòng, sau cùng là lúc sao trời hoàn thành chu kỳ. Vạn vật sinh tử, nóng lạnh luân chuyển, ngày đêm thay đổi, nếu không có điều này thì không thể thấy được. Khi trời đất đến cực điểm, tất sẽ biến đổi; biến đổi thì thông, thông thì lâu dài. Vì vậy, bậc thánh vương đến ngày cùng tháng tận thì đóng cửa, thương buôn không đi lại, vua cũng không tuần du, đó là thuận theo trời vậy.”
Người tiều phu hỏi: “Vô Vọng là tai họa, xin hỏi vì sao?”
Người đánh cá đáp: “Vọng nghĩa là lừa dối người khác, lừa gạt tất sẽ gặp họa, đó là vọng. Nếu hành động thuận theo trời, gặp họa thì không phải là họa, mà là tai ương. Như người nông dân muốn được mùa mà không chăm chỉ trồng trọt, nếu gặp mất mùa, chẳng phải là họa sao? Còn người chăm chỉ trồng trọt mà gặp thiên tai thì chẳng phải là tai ương sao? Vì thế, thánh nhân chú trọng vào việc chăm lo đúng thời, nuôi dưỡng vạn vật, không vọng tưởng.”
Người tiều phu hỏi: “Còn quẻ Cấu là gì?”
Người đánh cá đáp: “Cấu nghĩa là gặp gỡ, là sự mềm gặp cứng, đối lập với quẻ Quải. Khi âm mới bắt đầu đến gần dương, gọi là Cấu. Quan sát quẻ Cấu có thể thấy được tâm của trời đất. Bậc thánh nhân dùng đức mà hóa độ muôn vật, không gì là không hưng thịnh. Vì thế, thánh nhân truyền mệnh ra bốn phương, cẩn thận như đi trên sương sớm.”
Người đánh cá lại nói: “Mùa xuân là khi dương bắt đầu, mùa hạ là khi dương cực thịnh; mùa thu là khi âm bắt đầu, mùa đông là khi âm cực thịnh. Dương sinh thì ấm áp, dương cực thì nóng bức; âm sinh thì mát mẻ, âm cực thì lạnh giá. Ấm áp sinh ra vạn vật, nóng bức làm vạn vật trưởng thành, mát mẻ thu hoạch vạn vật, lạnh giá tiêu diệt vạn vật. Tất cả đều là một khí phân ra thành bốn. Việc sinh trưởng vạn vật cũng như thế.”
Người tiều phu hỏi người đánh cá rằng: “Con người sở dĩ linh thiêng hơn vạn vật, làm sao biết được điều đó?”
Người đánh cá trả lời: “Ý nói rằng mắt có thể thu nhận màu sắc của vạn vật, tai có thể nghe âm thanh của vạn vật, mũi có thể ngửi mùi của vạn vật, miệng có thể nếm vị của vạn vật. Âm thanh, màu sắc, khí vị chính là thể của vạn vật. Còn mắt, tai, mũi, miệng là công cụ của con người. Thể không có công dụng cố định, chỉ có sự biến đổi mà thành dụng; dụng không có thể cố định, chỉ có sự chuyển hóa mà thành thể. Khi thể và dụng hòa hợp, đạo của con người và vạn vật mới được trọn vẹn.
Như vậy, con người cũng là vật, thánh nhân cũng là con người. Có người chỉ là vật của một vật, có người là vật của mười vật, có người là vật của trăm vật, có người là vật của ngàn vật, có người là vật của vạn vật, có người là vật của ức vật, có người là vật của triệu vật. Sinh ra một vật để đối diện với triệu vật, chẳng phải cũng là con người sao? Có người là người của một người, có người là người của mười người, có người là người của trăm người, có người là người của ngàn người, có người là người của vạn người, có người là người của ức người, có người là người của triệu người. Sinh ra một người để đối diện với triệu người, chẳng phải là thánh nhân sao?
Vì vậy, con người là sự hoàn thiện của vật, thánh nhân là sự hoàn thiện của con người. Vật đạt đến cực điểm mới có thể gọi là vật của vật; con người đạt đến cực điểm mới có thể gọi là người của người. Cái gọi là vật đến cực điểm, chính là vật đến mức cùng tận; cái gọi là người đến cực điểm, chính là người đến mức cùng tận. Nếu lấy một vật đến cực điểm để sánh với một người đến cực điểm, chẳng phải chính là thánh nhân sao? Nếu có người nói rằng người đó không phải thánh nhân, ta không tin.
Tại sao vậy? Vì thánh nhân có thể dùng một tâm để quán sát vạn tâm, dùng một thân để quán sát vạn thân, dùng một vật để quán sát vạn vật, dùng một đời để quán sát vạn đời. Hơn nữa, thánh nhân có thể lấy tâm thay ý trời, miệng thay lời trời, tay thay công việc của trời, thân thay sự vụ của trời. Lại có thể nhìn lên để biết thiên thời, nhìn xuống để hiểu địa lý, quan sát ở giữa để thấu tình vạn vật, thấu suốt nhân sự. Còn có thể bao trùm trời đất, ra vào trong sự biến hóa, tiến lui giữa cổ kim, biểu hiện và thấu hiểu mọi thứ trong vạn vật.
Ôi! Thánh nhân không phải lúc nào cũng có thể gặp, nên ta không thể tận mắt thấy được. Nhưng dù ta không thể tận mắt thấy, nếu xem xét tâm ý của họ, quan sát dấu vết họ để lại, thăm dò bản thể của họ, suy ngẫm về cách họ ứng dụng, thì dù qua hàng triệu năm vẫn có thể hiểu được bằng lý lẽ.
Có người nói với ta rằng: ‘Bên ngoài trời đất này còn có một trời đất khác, có vạn vật khác, khác với trời đất và vạn vật này.’ Thì ta không thể nào biết được.
Không chỉ riêng ta không thể biết, mà ngay cả thánh nhân cũng không thể nào biết được. Tất cả những gì gọi là ‘biết’ đều là do tâm nhận thức mà biết. Tất cả những gì gọi là ‘nói’ đều là do miệng phát ra mà thành lời. Nếu ngay cả tâm còn không thể biết được, thì miệng làm sao có thể nói ra? Dùng tâm mà không thể biết để nói là biết, đó là vọng tri (sự biết sai lầm). Dùng miệng mà không thể nói để nói là biết, đó là vọng ngôn (lời nói sai lầm). Ta há có thể đi theo kẻ vọng tri, vọng ngôn mà hành động như họ sao?”
Người đánh cá nói với người tiều phu: “Khổng Tử có nói rằng: ‘Nhà Thương kế thừa lễ nghi của nhà Hạ, những gì được thêm vào hoặc bớt đi đều có thể biết được; nhà Chu kế thừa lễ nghi của nhà Thương, những gì được thêm vào hoặc bớt đi cũng có thể biết được. Nếu có triều đại nào kế thừa nhà Chu, dù qua trăm đời cũng có thể biết được.’ Nếu đã như vậy, thì đâu chỉ là trăm đời, mà dù là hàng ức vạn đời, tất cả cũng đều có thể hiểu được. Mọi người đều biết Khổng Tử là Khổng Tử, nhưng không biết vì sao Khổng Tử lại trở thành Khổng Tử. Nếu không muốn biết điều đó thì thôi, nhưng nếu thật sự muốn biết vì sao Khổng Tử là Khổng Tử, thì ngoài cách xem xét thiên địa, còn có thể dựa vào đâu nữa? Mọi người đều biết trời đất là trời đất, nhưng không biết vì sao trời đất lại là trời đất. Nếu không muốn biết điều đó thì thôi, nhưng nếu thực sự muốn biết vì sao trời đất là trời đất, thì ngoài việc xem xét sự vận động và tĩnh lặng, còn có thể dựa vào đâu nữa? Một sự vận động và một sự tĩnh lặng chính là điều kỳ diệu nhất của trời đất. Giữa sự động và tĩnh ấy, chính là sự kỳ diệu tột cùng của trời, đất và con người. Vậy nên, Khổng Tử có thể thấu hiểu đạo lý của Tam Tài (trời, đất và con người) vì hành động của ông không để lại dấu vết. Do đó có câu nói rằng: ‘Ta muốn không nói gì cả.’ Và lại có câu: ‘Trời có nói gì đâu? Nhưng bốn mùa vẫn vận hành, vạn vật vẫn sinh trưởng.’ Điều này chẳng phải là ý đó hay sao?”
Người đánh cá lại nói với người tiều phu: “Thật lớn lao thay, sự quyền biến và thay đổi! Nếu không phải là bậc thánh nhân thì không thể nào hiểu thấu được. Chỉ khi có sự thay đổi thì mới biết được sự suy thịnh của trời đất; chỉ khi có sự quyền biến thì mới biết được sự nặng nhẹ của thiên hạ. Sự suy thịnh là thời thế; sự nặng nhẹ là sự việc.
Thời thế có lúc thịnh suy, sự việc có lúc thêm bớt. Nếu thánh nhân không hiểu được đạo lý tùy thời thế mà thuận theo sự thịnh suy, thì làm sao biết được ý nghĩa của sự biến đổi? Nếu thánh nhân không hiểu được đạo lý tùy tình huống mà xem xét sự thêm bớt, thì làm sao biết được ý nghĩa của sự quyền biến?
Sự vận động của thịnh suy chính là sự biến đổi; cách ứng xử trước sự nặng nhẹ chính là sự quyền biến. Bởi vậy, sự quyền biến và sự thay đổi chỉ là một đạo lý duy nhất mà thánh nhân thấu triệt.”
Người tiều phu hỏi người đánh cá: “Người ta nói rằng sau khi chết vẫn còn tri giác, có thật như vậy không?”
Người đánh cá đáp: “Có đấy.”
Người tiều phu hỏi: “Làm sao biết được điều đó là thật?”
Người đánh cá đáp: “Dựa vào con người mà biết được.”
Người tiều phu lại hỏi: “Thế nào gọi là con người?”
Người đánh cá nói: “Khi khí của mắt, tai, mũi, miệng, tim, gan, lá lách và thận đều đầy đủ thì gọi là con người. Linh hồn của tim gọi là thần; linh hồn của gan gọi là phách; linh hồn của lá lách gọi là hồn; linh hồn của thận gọi là tinh.
Thần của tim phát ra qua mắt, gọi là thị (nhìn);
Tinh của thận phát ra qua tai, gọi là thính (nghe);
Hồn của lá lách phát ra qua mũi, gọi là xú (ngửi);
Phách của gan phát ra qua miệng, gọi là ngôn (nói).
Khi tám điều này đầy đủ, mới có thể gọi là con người.
Con người là kết tinh tinh hoa của trời đất và vạn vật. Tuy nhiên, cũng có những người không đạt được sự đầy đủ này, và mỗi người sẽ tìm về bản chất của mình. Nếu ai hoàn thiện đầy đủ bản tính con người, thì gọi là “toàn nhân chi nhân” (người toàn vẹn).
Người đạt được sự toàn vẹn này chính là người giữ được khí trung hòa của trời đất và vạn vật, gọi là “toàn đức chi nhân” (người có đức toàn vẹn). Người có đức toàn vẹn chính là người chân chính, hay còn gọi là “nhân nhân” (người nhân từ). Chỉ có người toàn vẹn mới có thể đạt được điều này.
Sự sống của con người là khi khí lưu hành; sự chết của con người là khi hình thể trở về cội nguồn. Khi khí còn lưu hành, thần và hồn giao hòa; khi hình thể trở về, tinh và phách còn tồn tại.
Thần và hồn bay lên trời, tinh và phách trở về đất. Khi thần và hồn hướng lên trời, gọi là “dương hành” (hành trình dương); khi tinh và phách trở về đất, gọi là “âm phản” (quay về âm). Dương hành thì ban ngày hiện diện, ban đêm ẩn đi; âm phản thì ban đêm hiện diện, ban ngày ẩn đi.
Bởi vậy, người hiểu được mặt trời thì biết đó là hình của mặt trăng; mặt trăng chính là bóng của mặt trời. Dương là hình của âm, âm là bóng của dương. Con người là hình của quỷ, còn quỷ là bóng của con người.
Nếu có người nói rằng quỷ không có hình dáng và không có tri giác, thì ta không tin.”
Người tiều phu lại hỏi người đánh cá: “Liệu có thể diệt trừ hết kẻ tiểu nhân được không?”
Người đánh cá đáp: “Không thể. Quân tử sinh ra nhờ khí dương chính trực, còn tiểu nhân sinh ra nhờ khí âm tà ác. Không có âm thì dương không thể thành, không có tiểu nhân thì quân tử cũng không thể thành. Chỉ có sự thịnh suy giữa chúng là khác nhau.
Khi dương chiếm sáu phần, âm chiếm bốn phần; khi âm chiếm sáu phần, dương chiếm bốn phần. Nếu âm dương cân bằng, mỗi bên đều chiếm năm phần. Bởi vậy có thể thấy rằng thời thế của quân tử và tiểu nhân luôn có lúc thịnh lúc suy.
Trong thời thái bình, quân tử chiếm sáu phần, còn tiểu nhân chiếm bốn phần. Khi đó, tiểu nhân không thể thắng được quân tử. Nhưng trong thời loạn lạc thì ngược lại.
Khi vua là vua, bề tôi là bề tôi, cha là cha, con là con, anh là anh, em là em, chồng là chồng và vợ là vợ, tức là mỗi người đều giữ đúng bổn phận của mình. Ngược lại, nếu vua không ra vua, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, anh không ra anh, em không ra em, chồng không ra chồng và vợ không ra vợ, tức là mỗi người đều đánh mất vị trí và trách nhiệm của mình. Điều này xảy ra do sự trị loạn của thời thế.
Quân tử thường hành động nhiều hơn nói, còn tiểu nhân thường nói nhiều hơn làm. Vì vậy, khi thế giới thái bình, những người thật thà, chân chất sẽ xuất hiện nhiều. Còn khi thời thế loạn lạc, những kẻ giả tạo, tô vẽ sẽ tràn lan.
Người chân thật hiếm khi thất bại trong việc lớn, còn kẻ giả tạo hiếm khi thành công lâu dài. Thành công thì quốc gia thịnh vượng, thất bại thì quốc gia diệt vong. Việc hưng thịnh hay suy vong của một gia đình cũng như vậy.
Người làm cho gia đình hưng thịnh và người làm cho quốc gia hưng thịnh cũng giống như người làm cho quốc gia và gia đình suy vong. Sự khác biệt giữa họ thực sự rất lớn!”
Người tiều phu lại hỏi người đánh cá: “Người ta thường nói về tài năng. Tài năng có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có thể gây hại. Vì sao lại như vậy?”
Người đánh cá đáp: “Tài năng chỉ có một, nhưng lợi ích và tác hại lại là hai.
Có tài năng chính trực và tài năng bất chính.
Tài năng chính trực là tài năng mang lại lợi ích cho người khác và cũng có lợi cho chính bản thân người đó.
Tài năng bất chính là tài năng mang lại lợi ích cho bản thân nhưng lại gây hại cho người khác.”
Người tiều phu hỏi: “Nếu tài năng là bất chính, thì làm sao có thể gọi đó là tài năng được?”
Người đánh cá đáp: “Nếu một người có thể làm được điều mà người khác không thể làm, chẳng phải đó là tài năng sao? Lý do các bậc thánh nhân luôn quý trọng tài năng là vì rất ít người có thể dùng tài năng để làm việc chính nghĩa. Nếu một người có tài năng nhưng không thể hướng đến điều chính trực, thì dù có tài, cũng khó có thể nói rằng người đó có lòng nhân từ.
Điều này giống như việc dùng thuốc để chữa bệnh. Thuốc độc đôi khi cũng có thể được sử dụng, nhưng chỉ dùng một lần, không thể lặp lại. Nếu bệnh đã khỏi, phải ngừng thuốc ngay; nếu không, thuốc sẽ giết chết người bệnh. Ngược lại, thuốc thông thường có thể sử dụng hàng ngày mà không gây hại, nhưng chúng không thể chữa khỏi bệnh nặng.
Người có thể sử dụng thuốc độc để trị bệnh nặng mà không gây hại, đó mới thực sự là người tài giỏi. Trong Kinh Dịch có câu: ‘Vua sáng suốt có mệnh lệnh, khai quốc lập gia, tiểu nhân không nên được dùng.’ Điều này có nghĩa là tiểu nhân cũng có lúc cần được sử dụng, nhưng khi thời thế đã yên bình và ổn định, thì không nên dùng họ nữa.
Trong Kinh Thi cũng có câu: ‘Đá ở núi khác có thể mài thành ngọc.’ Đây chẳng phải là ám chỉ việc sử dụng tài năng của tiểu nhân sao?”
Người tiều phu lại hỏi: “Ta đã hiểu về sự hưng thịnh và suy vong của quốc gia, cũng như sự khác biệt giữa tài năng chính trực và bất chính. Nhưng tại sao người ta không chọn người tài đức để sử dụng?”
Người đánh cá đáp: “Việc chọn bề tôi là trách nhiệm của vua, còn việc chọn vua là trách nhiệm của bề tôi. Người hiền và kẻ ngu đều tìm đến những người cùng chí hướng. Vì thế, nếu có vua như Nghiêu và Thuấn thì ắt có bề tôi như Nghiêu và Thuấn; nếu có vua như Kiệt và Trụ thì ắt có bề tôi như Kiệt và Trụ. Những bậc trung lương, dù sinh ra trong thời vua bạo ngược, cũng khó có đất dụng võ, cũng như những kẻ xấu nếu sống dưới thời vua thánh minh sẽ không có cơ hội làm điều xấu.
Người trên yêu thích điều gì, kẻ dưới sẽ làm theo điều đó. Cái này giống như bóng với hình, không cần ép buộc mà tự nhiên thành. Nếu bậc quân vương yêu thích điều nghĩa, thì bề tôi và dân chúng cũng sẽ hướng tới điều nghĩa, khiến những kẻ bất nghĩa phải tránh xa. Nếu bậc quân vương ham lợi lộc, thì bề tôi và dân chúng cũng sẽ đua theo lợi ích, khiến những kẻ không biết tính toán lợi hại phải rời bỏ.
Khi những người ham lợi chiếm số đông, quốc gia sẽ ngày càng suy yếu. Ngược lại, khi những người yêu chuộng điều nghĩa chiếm số đông, quốc gia sẽ ngày càng hưng thịnh. Sự thịnh hay suy, tồn vong của một quốc gia không phải là điều xa vời, mà chính là do những điều mà người lãnh đạo yêu thích quyết định.
Trong thời thái bình, dù có tiểu nhân, nếu không được trọng dụng thì cũng chẳng có cơ hội làm điều xấu. Ngược lại, trong thời loạn lạc, dù có quân tử, nếu không được trọng dụng thì cũng không thể phát huy chính đạo. Tất cả đều do sự lựa chọn của người lãnh đạo mà ra.”
Người tiều phu nói: “Người tốt thường ít, còn kẻ xấu thường nhiều; thời thái bình hiếm thấy, còn thời loạn lạc lại thường xuyên xảy ra. Vì sao lại như vậy?”
Người đánh cá đáp: “Hãy quan sát thiên nhiên, có điều gì không như thế đâu? Ví như trồng ngũ cốc, dù có nhổ cỏ dại cũng không phải lúc nào cây lúa cũng mọc tốt. Cỏ dại như cây bồng, cây cỏ hoang dại dù không ai chăm sóc vẫn mọc lên đầy rẫy. Dù có nhổ sạch cỏ dại bao nhiêu lần, chúng vẫn tiếp tục mọc lại.
Từ đây có thể thấy đạo lý về quân tử và tiểu nhân đã tồn tại từ lâu. Quân tử thấy điều thiện thì vui mừng, thấy điều ác thì tránh xa. Tiểu nhân thấy điều thiện thì ganh ghét, thấy điều ác thì vui vẻ. Người tốt và kẻ xấu đều có xu hướng tìm đến những điều phù hợp với bản chất của mình.
Quân tử thấy điều nghĩa thì sẵn sàng làm theo, thấy lợi lộc thì dừng lại. Tiểu nhân thấy điều nghĩa thì dừng lại, thấy lợi lộc thì đuổi theo. Hành động vì nghĩa là giúp người khác, còn chạy theo lợi lộc là hại người khác. Khoảng cách giữa việc giúp người và hại người thật xa biết bao!
Dù trong gia đình hay quốc gia, nguyên lý này đều giống nhau. Khi quốc gia hưng thịnh, quân tử chiếm số đông còn tiểu nhân rất ít. Khi quốc gia suy vong, tiểu nhân đầy rẫy còn quân tử hiếm hoi. Khi quân tử nhiều nhưng bị loại bỏ, đó là vì tiểu nhân lộng hành. Ngược lại, khi tiểu nhân nhiều nhưng bị loại bỏ, đó là nhờ quân tử nắm quyền.
Quân tử yêu chuộng sự sống, tiểu nhân lại thích sự giết chóc. Yêu chuộng sự sống thì đất nước thái bình, thích giết chóc thì thiên hạ loạn lạc. Quân tử yêu điều nghĩa, tiểu nhân tham điều lợi. Khi thiên hạ thái bình, người ta đề cao điều nghĩa; khi thiên hạ loạn lạc, người ta chạy theo lợi lộc. Đạo lý này là bất biến.”
Người đánh cá nói xong, người tiều phu thốt lên: “Ta nghe nói xưa kia có Phục Hy, giờ đây được nghe lời ông mà như thấy tận mắt dung nhan của thánh nhân.”
Nói rồi, ông cúi lạy cảm tạ, chờ đến sáng hôm sau thì rời đi.
Để lại một bình luận